Án treo, các quy định và điều kiện được hưởng án treo

Thứ tư - 23/09/2015 05:37
Đối với người phạm tội hình sự phải chịu hình phạt tù có thời hạn, phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhưng tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả không quá trầm trọng, người phạm tội có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì có thể được cho hưởng án treo.
Khi tham gia tư vấn, tranh tụng bảo vệ quyền lợi cho thân chủ là người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Luật sư “DUC PHUONG LAW” luôn bám sát căn cứ pháp luật, nghiên cứu chi tiết, tỉ mỉ các tình tiết, chứng cứ, diễn biến vụ án để đưa ra quan điểm sát hợp thực tế.

Bằng những lập luận chặt chẽ, phù hợp quy định cuả pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội, 
DUC PHUONG LAW bảo vệ quyền lợi cho thân chủ ở mức cao nhất, đặc biệt là “Lời đề nghị” cho bị cáo hưởng án treo. Người phạm tội tuy phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được miễn chấp hành, không bị cách ly khỏi xã hội mà vẫn có thể sống, lao động, học tập tại cộng đồng xã hội với điều kiện chấp hành tốt chính sách pháp luật trong thời gian thử thách. Chúng ta cùng tìm hiểu về án treo và các quy định liên quan dưới đây:

1. Khái niệm án treo:

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

2. Điều kiện hưởng án treo:

Án treo chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 60 BLHS và tiểu mục 6.1, 6.2 Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. 

2.1 Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;

Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;

c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;

d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. 

2.2 Khi cho bị cáo hưởng án treo, Toà án sẽ áp dụng thời hạn thử thách đối với bị cáo.

Có hai trường hợp xảy ra trong quá trình thử thách:

a) Người được cho hưởng án treo tu dưỡng, rèn luyện tốt và không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì được miễn chấp hành hình phạt tù đã tuyên.

b) Người được cho hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt của tội mới phạm và phải chấp hành toàn bộ hình phạt tù có theo án tuyên.

Đây chính là điều kiện cho việc hưởng án treo, người bị kết án chấp hành thời gian thử thách của án treo thực chất là chấp hành điều kiện của việc hưởng án treo chứ không phải là chấp hành hình phạt. Đó là lý do tại sao khi người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ phải chấp hành hình phạt chung trên cơ sở tổng hợp toàn bộ hình phạt tù của bản án treo với hình phạt của tội mới mà không được trừ đi thời gian họ đã chấp hành thời gian thử thách của án treo. Như vậy, cần phân biệt sự khác nhau giữa “điều kiện để cho hưởng án treo” với “điều kiện của án treo”.

Án treo không phải là hình phạt nên không thể so sánh án treo với các hình phạt như hình phạt tù có thời hạn, cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tiền. Tuy nhiên, có thể so sánh án treo với các bản án khác như án phạt tù có thời hạn, phạt tiền (với tư cách là hình phạt chính) hoặc cải tạo không giam giữ; qua đó, để thấy tính chất của tội phạm và tình trạng của người bị kết án.

Nếu so sánh bản án phạt cải tạo không giam giữ với bản án treo sẽ cho chúng ta thấy: Tính chất của tội phạm trong bản án phạt cải tạo không giam giữ ít nghiêm trọng hơn tội phạm trong bản án treo. Bởi lẽ, tội phạm trong bản án treo thì bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn, còn tội phạm trong bản án cải tạo không giam giữ thì bị phạt hình phạt chính là cải tạo không giam giữ (là loại hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn).

Nếu so sánh bản án treo với bản án phạt tù có thời hạn không được hưởng án treo (tù giam) trong điều kiện bị cáo cùng bị áp dụng mức hình phạt tù như nhau thì việc cho hưởng án treo có thể khác nhau vì phải dựa trên tổng hợp các yếu tố về nhân thân, ý thức trách nhiệm, khắc phục hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự...

 
 


3. Thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo:

Thời gian thử thách là điều kiện bắt buộc khi cho hưởng án treo. Theo quy định tại Điều 60 BLHS thì mức thời gian thử thách từ một năm đến năm năm, nghĩa là thời hạn thử thách không dưới một năm và không quá năm năm.

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 6.4 Mục 6 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 thì cách tính để xác định mức thời gian thử thách như sau:

- Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới một năm và không quá năm năm;

- Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành nhưng không được dưới một năm và không quá năm năm.

Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể ấn định thời gian thử thách ngắn hơn mức đã được hướng dẫn trong 2 trường hợp nêu trên nhưng phải nêu rõ lý do trong bản án.

*Hậu quả của việc phạm tội mới trong thời gian thử thách:

Tại khoản 5 Điều 60 BLHS quy định: Nếu người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Toà án quyết định buộc họ phải chấp hành toàn bộ hình phạt của bản án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 BLHS.

Người được hưởng án treo phải chấp hành toàn bộ hình phạt của bản án treo mà không được trừ đi thời gian đã chấp hành thời gian thử thách, bởi lẽ, bản chất của việc chấp hành thời gian thử thách là chấp hành điều kiện của án treo chứ không phải là chấp hành hình phạt. Do vậy, khi cần tổng hợp hình phạt của bản án treo với các hình phạt khác thì chỉ cần tổng hợp hình phạt tù của bản án treo với các hình phạt khác theo quy định tại Điều 51 BLHS.

Với những phân tích trên, bằng khả năng, kinh nghiệm nhiều năm tham gia tranh tụng các vụ án hình sự, DUC PHUONG LAW sẽ bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của quý khách hàng, đưa ra căn cứ thuyết phục nhất đề nghị Tòa án có thẩm quyền cho bị cáo hưởng án treo, giúp bị cáo cải tạo tốt nhất mà không cần cách ly khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.


 

Tác giả bài viết: DUC PHUONG LAW

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây